>> Lưu trữ năng lượng gió dưới biển
>> Lãng phí hàng chục tỷ đồng vì điện gió
Đo gió bằng… mắt
Theo tiến sĩ Dương Duy Hoạt, Chủ tịch Hội đồng khoa học (Viện Khoa học Năng lượng - Viện KH&CN Việt Nam) cho biết, điều này bắt nguồn từ những kiểu đo gió không giống ai: Có người đo gió kiểu "nhìn trời, nhìn đất, nhìn mây" rồi... đoán. Có người dùng dụng cụ lạc hậu, chủ yếu đo ở độ cao khoảng 10 m, tương tự cột đo của ngành khí tượng thủy văn, trong khi nhiều nước trên thế giới đo ở độ cao 60 m; có người lại đo thử nghiệm ở độ cao khá thấp rồi tính toán suy luận lên những độ cao hơn. Thậm chí cứ bộ, ngành, nào có tiền thì "thử".
Vì vậy, cơ sở dữ liệu thu thập được trong mấy chục năm chỉ cho ta một bức tranh khái quát về chế độ gió và tiềm năng năng lượng gió ở độ cao 10 m trong phạm vi cả nước. “Việt Nam chưa có cơ sở dữ liệu tin cậy và đầy đủ để đánh giá được tiềm năng thực tế về năng lượng gió của Việt Nam”, tiến sĩ Dương Duy Hoạt nói.
 |
Cột đo gió ở Hòa Bình.
Ảnh do tiến sĩ Dương Duy Hoạt cung cấp. |
Tiến sĩ Hoàng Sinh Trường, Phó giám đốc Trung tâm nghiên cứu năng lượng mới, ĐH Bách khoa Hà Nội cho rằng, do các nghiên cứu về gió còn manh mún nên mới có tình trạng dự án ứng dụng năng lượng gió triển khai rồi thất bại.
Để tiềm năng không bị bỏ phí
Nhiều tập đoàn, doanh nghiệp nước ngoài cũng cho rằng tốc độ nghiên cứu, ứng dụng năng lượng gió ở Việt Nam quá chậm.
Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam là quốc gia có tiềm năng gió lớn nhất khu vực Đông Nam Á với tổng công suất khoảng 53.000 MW, lớn hơn rất nhiều lần so với công suất Thủy điện Sơn La (2.400 MW).
Đánh giá này cũng trùng với nhận định của Tổ chức Khí tượng thế giới. Thông qua tính toán bằng vệ tinh, cơ quan này đánh giá, tiềm năng về gió ở Việt Nam lên đến cả trăm nghìn MW.
Tiến sĩ Dương Duy Hoạt cho biết thêm, nhiều khu vực ven biển, miền núi có độ cao 65 m đều có chế độ gió tốt, tốc độ gió trung bình năm đạt từ 7 đến 9m một giây. Trong đó, có khoảng 9% diện tích vùng lãnh thổ có thể xây dựng các nhà máy điện gió công suất lớn. Việc nghiên cứu chậm trễ sẽ khiến Việt Nam phải đối mặt với nguy cơ thiếu hụt năng lượng ngày càng nhanh.
Theo các chuyên gia về năng lượng, để biến những tiềm năng thành hiện thực, tạo cơ sở khoa học tin cậy để xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển nguồn năng lượng gió, Việt Nam cần tiến hành nghiên cứu kỹ từ đầu.
Trước tiên, cần tiến hành điều tra cơ bản đánh giá về chế độ gió và năng lượng gió một cách chính xác theo yêu cầu của công nghệ điện gió hiện đại, đặc biệt đối với những khu vực có khả năng xây dựng các nhà máy điện gió công suất lớn và những vùng chưa có khả năng cấp điện lưới quốc gia trong nhiều năm tới.
Tiến sĩ Dương Duy Hoạt cho rằng, cần huy động đông đảo nhà khoa học, doanh nghiệp vào cuộc, muốn vậy, cần xây dựng các chính sách hỗ trợ, đặc biệt sớm ban hành Luật Năng lượng tái tạo nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi có tính đột phá để đẩy mạnh khai thác sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo của Việt Nam.
Đồng tình quan điểm này, tiến sĩ Hoàng Sinh Trường cũng cho rằng, Nhà nước cần xác định phát triển năng lượng tái tạo là một nhiệm vụ khoa học công nghệ ưu tiên. Do đó, cần sớm hình thành chương trình khoa học công nghệ trọng điểm điểm cấp nhà nước về phát triển năng lượng mới và tái tạo, trong đó, không thể thiếu vai trò của đơn vị KH&CN đầu mối để tập hợp lực lượng KH&CN nói trên, tránh tình trạng “mạnh ai nấy làm”.