Người giàu mới phải nộp thuế nhà, đất?
Cập nhật lúc :8:03 AM, 04/08/2009
Nhà ở trị giá trên 600 triệu đồng sẽ phải chịu thuế 0,03%; đất ở chịu thuế suất lần lượt là 0,03, 0,06 và 0,09% tùy theo diện tích đất sử dụng.

Đây là quy định tại Dự thảo Luật Thuế nhà, đất vừa được Bộ Tài chính chỉnh sửa sau khi lấy ý kiến các bộ, ngành. So với quy định ban đầu của dự thảo luật này, khởi điểm chịu thuế với nhà ở vẫn không thay đổi nhưng các mức thuế suất với nhà, đất ở đều giảm.

Nhà ở dưới 150 m2 không phải chịu thuế

Phương án mới nhất theo đề xuất của Bộ Tài chính là nhà ở trị giá dưới 600 triệu đồng không phải chịu thuế, còn trên 600 triệu đồng sẽ chịu thuế suất 0,03% một năm. Thuế suất đối với đất ở được chia làm ba mức (đề xuất cũ chỉ có hai mức): 0,03% đối với diện tích đất trong hạn mức (đề xuất cũ là 0,05%); 0,05% với diện tích vượt nhưng không quá ba lần và 0,09% với phần vượt trên ba lần (đề xuất cũ là 0,1%). 

Theo tính toán của Bộ Tài chính, với phương án này, đại bộ phận nhà ở hiện nay ở nông thôn, nhà ở đô thị có diện tích từ 150 m2 trở xuống sẽ không thuộc diện chịu thuế. Đối với các trường hợp có quyền sử dụng một mảnh đất với mức giá trung bình thì số thuế phải nộp tương đương với mức thu hiện hành và thấp hơn. Một số trường hợp có diện tích đất lớn hoặc giá đất cao thì số thu dự kiến có thể tăng từ 2 đến 2,8 lần số thu hiện hành, có một số trường hợp tăng lên khoảng 5 lần, chủ yếu là trường hợp có diện tích đất lớn hoặc giá đất cao và có nhiều nhà, đất. 

Nhà ở nông thôn, nhà ở đô thị dưới 150 m2 sẽ không phải chịu thuế? Ảnh: Đức Long.

Ông Vũ Văn Phấn, Trưởng văn phòng thường trực Ban chỉ đạo Trung ương về chính sách nhà ở và thị trường bất động sản, cho rằng mức khởi điểm chịu thuế về nhà là hợp lý. “Hộ gia đình sống ở những căn nhà có giá trị dưới 600 triệu đồng cũng chỉ có mức thu nhập trung bình. Còn những người có nhà trên 600 triệu đồng thông thường thuộc diện khá giả, do vậy, việc đóng thuế nhà là việc bình thường”, ông Phấn nói.

Tương tự, chính sách thuế với đất ở cũng đã có tác dụng điều tiết với người sở hữu diện tích đất lớn, nghĩa là có điều kiện kinh tế cao. “Theo quan điểm của tôi, đối với những người sở hữu đất cao hơn ba lần định mức, thậm chí phải đánh thuế cao hơn mức 0,09% thì mới phù hợp”, ông Phấn nhận xét.

Thuế suất nên theo mục đích sử dụng

Đánh giá về tác động chính sách thuế mới này với thị trường bất động sản, ông Phấn nhận định là tích cực, vì hiện nay Nhà nước vẫn thu thuế bất động sản theo thuế đất nông nghiệp với giá quá thấp thậm chí là gây ra lãng phí. Khi Luật Thuế nhà đất được áp dụng, những người sở hữu nhiều đất đai sẽ phải cân nhắc, giảm bớt đầu cơ. Khi đó, quỹ đất sẽ bớt căng thẳng, tạo cơ hội cho người có thu nhập vừa phải tiếp cận được đất đai. Trong khi đó, những người có ngôi nhà dưới 600 triệu đồng sẽ không chịu áp lực và thêm gánh nặng về thuế.

GS.TSKH Đặng Hùng Võ, Chủ nhiệm bộ môn địa chính, ĐH Quốc gia Hà Nội, cho rằng, hai loại thuế nhà, đất này có nguyên tắc đánh thuế khác nhau. Đối với thuế đất, mục tiêu là tạo động lực để sử dụng đất có hiệu quả, do vậy cần quy định thuế suất thấp trong trường hợp đầu tư trên đất có hiệu quả cao, suất đầu tư lớn và ngược lại, cần quy định thuế suất cao trong trường hợp sử dụng đất không hiệu quả, nhất là khi có đất nhưng không sử dụng hoặc chỉ sử dụng chiếu lệ. Nhưng đối với nhà mà đánh thuế theo như nguyên tắc đối với đất thì trong nhiều trường hợp sẽ làm mất động lực đầu tư, vì nhiều người sẽ nghĩ đến việc xây dựng nhà có giá trị thấp nhằm “né” thuế.

Cũng theo ông Võ, một vấn đề khác cần xem xét khi thiết kế biểu thuế đối với nhà, đó là nhà ở đang được sử dụng vào mục đích sinh lợi, không phải để ở. Chẳng hạn, với nhà thực ở trong hạn mức thì không nên đánh thuế, nhưng nhà để đấy không sử dụng hoặc cho thuê hay để kinh doanh sinh lời thì cần đăng ký và có khung tính thuế khác nhau.

Theo tính toán của Bộ Tài chính, thuế nhà, đất theo quy định hiện hành có số thu bình quân khoảng 500 tỷ mỗi năm và tốc độ tăng 13%. Với quy định mới trong dự thảo luật, tổng số thu thuế nhà, đất dự kiến khoảng 1.643 tỷ đồng mỗi năm.

Một số đối tượng được miễn thuế theo Pháp lệnh thuế nhà, đất (như đất ở của gia đình thương binh (nặng); gia đình liệt sĩ; đất xây dựng nhà tình nghĩa; đất ở của người tàn tật..) được dự thảo luật chuyển vào đối tượng không thuộc diện chịu thuế nhằm giảm bớt thủ tục hành chính trong quá trình đăng ký, kê khai thuế.

Những trường hợp được giảm thuế là: gặp khó khăn do bị thiên tai, địch hoạ, tai nạn bất ngờ, thương binh (nhẹ), thân nhân liệt sĩ...

Nam Khánh

Ý kiến của bạn In bài này
Bảng giá vàng

Loại vàngMua vàoBán ra
sjc1l2813028200
sjc24k2813028200
sjc18k2813028200
sjc14k2813028220
sjc1c2813028230
Bảng giá goại tệ

Mã NTMua TMMua CKBán
USD190001902019100
AUD161061586416405
CAD178751788518258
CHF177731788518146
EUR238232380324274
GBP286372877429140
JPY215.22216.69220.06
SGD136371364013856
THB0538651
HKD023892465
NZD01308813627
SEK024752555
CNY028152829

Chứng khoán


434.42-13.5 47,294,863
31,209 1,161.20

Mã CK Giá KL Khối lượng Thay đổi
ABT 48
ACL 29
AGF 26.8
ALP 17
ANV 16.6
ASP 10.3
BAS 9.5
BBC 24.5
BCI 38.7
BHS 32.6
BMC 33
BMI 16.4
BMP 49.8
BT6 71
BVH 44
CAD 9.4
CII 33
CLC 20.7
CNT 25.3
COM 56.5
CSG 10.3
CTG 21.6
CYC 8.1
DCC 22.9
DCL 50
DCT 10.6
DDM 8.9
DHA 24.6
DHC 12.8
DHG 114
DIC 23.5
DMC 35
DPM 28.5
DPR 58.5
DQC 26.7
DRC 37.1
DTT 11.1
DXV 25.3
FBT 10.3
FMC 13
FPC 7.2
FPT 70
GIL 23.8
GMC 20.6
GMD 33.9
GTA 10.3
HAG 71
HAP 15.9
HAS 11.7
HAX 14.2
HBC 43
HCM 32.3
HDC 44.1
HLA 15.5
HMC 17.3
HPG 35.1
HRC 57
HSG 21.7
HSI 12.2
HT1 11.2
HTV 37.4
ICF 11.9
IFS 9.4
IMP 56.5
ITA 18
KDC 51
KHA 21.4
KHP 11.3
KMR 9.5
KSH 41.7
L10 34.2
LAF 19.3
LBM 13.5
LCG 32.9
LGC 27
LSS 30.4
MAFPF1 4.6
MCP 12.5
MCV 16.8
MHC 8.3
MPC 29
MTG 18.5
NAV 13.3
NBB 83
NKD 41.9
NSC 32.6
NTL 61.5
OPC 46
PAC 51
PET 18.4
PGC 17.1
PIT 16.4
PJT 10.1
PNC 10.9
PNJ 30.4
PPC 12.6
PRUBF1 4.4
PTC 12.6
PVD 40
PVF 19.1
PVT 11.8
RAL 21.9
REE 15.9
RIC 15.8
SAM 22.4
SAV 24.6
SBT 10.3
SC5 49
SCD 27.5
SFC 32.1
SFI 22.3
SGT 17
SJD 14.5
SJS 60
SMC 25.5
SSC 42
SSI 26.6
ST8 27.3
STB 15.7
SVC 27.9
SZL 23.2
TAC 22.3
TCM 16.7
TCR 8
TDH 35.1
TMP 13.3
TMS 25.2
TNA 30
TNC 16.7
TPC 11.3
TRA 42
TRC 58.5
TRI 8.4
TS4 27.1
TSC 15.2
TTF 19
IJC 17.1
OGC 32.5
TDC 29.8
PXI 21.8
NHS 32.3
SBS 23.1
UDC 16.6
TTP 31.9
TYA 7.2
UIC 20.9
VCB 36.5
VFC 14.4
VFMVF1 10.5
VFMVF4 5.8
VHC 49.9
VHG 20.2
VIC 62.5
VID 11.8
VIP 13.5
VIS 37.5
VKP 7.7
VNA 16.9
VNE 13
VNM 87
VNS 27.9
VPK 9.8
VPL 36.9
VSC 64.5
VSG 9
VSH 11.9
VST 13.3
VTB 18.9
VTO 10.2
HAI 26.9
KBC 28.4
TBC 14.7
AGD 28.5
APC 14.6
ASM 54.5
CMG 22.4
CMT 32.5
CTD 68
CTI 37
FDC 29.9
HDG 86
KDH 39.5
KSB 56.5
LHG 56
SEC 23.9
STG 38
TLG 28.5
TLH 14.8
TMT 25.9
BTT 35
VES 21.7
NVN 29.4
CLG 43
QCG 24.3
DAG 18.2
AAM 25
AGR 11.4
ATA 25.4
BTP 10.9
CSM 30.4
D2D 54
DIG 41.3
DVD 137
DVP 34
DXG 33.8
EIB 16.1
GDT 18.2
HLG 19.5
HVG 21.9
ITC 23
KSS 27.3
LGL 25.5
LIX 69
MCG 28.3
MSN 49
PGD 32.3
PHR 36.8
PHT 16.3
RDP 16.2
SHI 28
SRC 30.7
SRF 26.4
TCL 39.1
TIC 11
TIE 20
TIX 50.5
VFG 57
VNG 16.4
VNI 20.8
VNL 15.3
VPH 29
VNH 12.4
CCI 24
NTB 19.4
CMV 35
PDR 34.5
SPM 64
TNT 26.2
DTA 23.8
NHW 19.5
NNC 50
GTT 11.7
KSA 45.6
BCE 16.4
DRH 17.2
VFMVFA 7.6
PXT 13.2
SBA 8.4
POM 35.2
PPI 26.7
DTL 20
NVT 20.5
DLG 18.1
PXM 14
VRC 34
MKP 52.5
PXS 17.3
SBC 36.6